Sự không chắc chắn sẽ vẫn là thách thức lớn nhất đối với ngành may mặc vào năm 2020. Rào cản thương mại gia tăng và căng thẳng địa chính trị, từ căng thẳng thương mại Mỹ – Trung Quốc đang phát triển, bất ổn xã hội ở Hồng Kông, đến Brexit và thương mại trong năm bầu cử Mỹ… có thể làm cho các công ty đặc biệt khó lập kế hoạch kinh doanh của họ trong cả ngắn hạn và dài hạn.
Thêm vào đó, việc các nền kinh tế tăng cường sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại cũng sẽ tác động tiêu cực tới hoạt động xuất, nhập khẩu toàn cầu. Theo số liệu ước tính của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), năm 2019 đã có sự gia tăng 37% trong các biện pháp thương mại hạn chế được thực hiện bởi các thành viên G20 so với năm 2018.
Trong bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ tăng, triển vọng kinh tế năm 2020 cũng là một bức tranh hỗn hợp. Dự báo mới nhất của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho thấy, trong khi các nền kinh tế đang phát triển nói chung có khả năng thúc đẩy nhiều sự tăng trưởng, thị trường tiêu thụ hàng may mặc hàng đầu trên thế giới, bao gồm Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và các thành viên của Liên minh châu Âu có thể chậm hơn vào năm 2020 so với năm 2019. Điều này tạo ra bức tranh kém sôi động cho kế hoạch đầu tư mới của các công ty và tốc độ mở rộng toàn cầu.
Trong khi đó, ở cấp độ doanh nghiệp, một số vấn đề sẽ xuất hiện cả thách thức và cơ hội cho các công ty may mặc vào năm 2020. Ví dụ, chuyển sự bền vững sang cấp độ tiếp theo, từ thiết kế sản phẩm, lựa chọn nguyên liệu thô, thực hành tìm nguồn cung ứng đến thu gom và tái chế được sử dụng quần áo, sẽ đòi hỏi đầu tư tài chính đáng kể và các nguồn lực khác từ các công ty. Tuy nhiên, thực tế thị trường may mặc bền vững đã trải qua sự tăng trưởng toàn cầu đặc biệt nhanh chóng trong vài năm qua trên toàn thế giới, có nghĩa đây cũng có thể là một khu vực tăng trưởng đầy hứa hẹn cho các công ty may mặc.
Tương tự, ngày càng nhiều công ty may mặc đang sử dụng các công cụ phân tích kinh doanh và dữ liệu lớn để có được những đánh giá mới về hành vi mua hàng của người tiêu dùng, thực tiễn giá cả của đối thủ cạnh tranh và thậm chí dự báo xu hướng thời trang của mùa tới. Điều này cho thấy các công ty không quan tâm đến công tác R&D có thể sẽ gặp bất lợi đáng kể trong cuộc cạnh tranh thị trường. Nói cách khác, các doanh nghiệp dệt may đang ngày càng trở chuyên nghiệp hơn trong bối cảnh mới.
Bối cảnh lớn của nguồn cung ứng hàng may mặc vào năm 2020 dường như khá giống với kỷ nguyên hạn ngạch cách đây 30 năm. Mặc dù hạn ngạch về lý thuyết không còn tồn tại, các công ty may mặc có thể cung cấp bao nhiêu sản phẩm từ một quốc gia, nhưng lần này, giới hạn định lượng được áp dụng bởi công cuộc tìm nguồn cung ứng phức tạp hơn, bao gồm các yếu tố từ chi phí, tốc độ giao hàng, năng lực sản xuất, linh hoạt để tuân thủ rủi ro. Dù muốn hay không, nguồn cung ứng hàng may mặc vào năm 2020 thậm chí có thể trở nên đa dạng và phân mảnh hơn do có hai sự đồng thuận liên kết giữa các công ty.
Một số xu hướng chính về chiến lược tìm nguồn cung ứng năm 2020:
+ Thứ nhất, các thương hiệu thời trang và nhà bán lẻ phương Tây đang giảm nhập khẩu từ Trung Quốc. Theo Nghiên cứu Điểm chuẩn ngành Công nghiệp Thời trang Mỹ năm 2019, 83% số doanh nghiệp được hỏi dự kiến sẽ giảm nguồn cung từ Trung Quốc trong 2 năm tới. Trong khi đó, lần đầu tiên kể từ năm 2014, Trung Quốc không còn luôn là nhà cung cấp hàng đầu cho các công ty thời trang Mỹ. Trên thực tế, khoảng 25% số doanh nghiệp được hỏi cho biết họ lấy nguồn thêm từ Việt Nam và các thị trường khác so với từ Trung Quốc vào năm 2019, một xu hướng mới nổi có thể tiếp tục trong những năm tới.
+ Thứ hai, không có một quốc gia nào nổi lên để trở thành Trung Quốc tiếp theo về nguồn cung ứng may mặc. Theo dõi mô hình thương mại quần áo thế giới và xu hướng tìm nguồn cung ứng hàng may mặc cụ thể tại các thị trường trọng điểm như Mỹ , Nhật Bản và Anh cho thấy, thị phần bị mất của Trung Quốc phải được hoàn thành bởi một nhóm các nhà cung cấp đến từ các khu vực khác nhau, chủ yếu là do vấn đề năng lực.
Mặc dù vẫn còn là một dấu hỏi về việc nguồn cung từ Trung Quốc sẽ giảm bao nhiêu và nhanh chóng như thế nào trong 5 năm tới, nhưng chắc chắn dân số tại Việt Nam, Bangladesh và các thị trường khác được coi là lựa chọn thay thế của Trung Quốc sẽ không tăng gấp đôi. Điều này giải thích tại sao nhiều thương hiệu thời trang và nhà bán lẻ ở Mỹ và EU cho biết họ sẽ tiếp tục duy trì một cơ sở tìm nguồn cung ứng tương đối đa dạng và trong bối cảnh ngành may mặc, nó thực sự có nghĩa là tìm nguồn cung ứng từ hơn 20 hoặc thậm chí 50 quốc gia khác nhau hoặc khu vực.
+ Thứ ba, trong khi các công ty đang tìm nguồn cung ứng từ nhiều quốc gia hơn, nhiều người trong số họ đang làm việc với ít nhà cung cấp hơn. Các cân nhắc chính bao gồm giảm chi phí, thúc đẩy tuân thủ, nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng cường mối quan hệ với các đối tác chuỗi cung ứng chiến lược.
+ Ngoài ra, việc tiếp cận hoặc thực hiện một số hiệp định thương mại tự do (FTA) vào năm 2020 liên quan đến các nước xuất nhập khẩu hàng may mặc quan trọng. Đáng chú ý, các FTA không chỉ cung cấp ưu đãi thuế mà còn đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình chuỗi cung ứng mới và duy trì các chuỗi cung ứng hiện có. Ví dụ: Khả năng đạt được Hiệp định Đối tác Kinh tế và Toàn diện Khu vực (RCEP) có thể củng cố hơn nữa mạng lưới sản xuất và dệt may khu vực giữa các nước châu Á. Thỏa thuận cũng có thể đẩy nhanh quá trình chuyển đổi của Trung Quốc từ việc trở thành nhà xuất khẩu hàng may mặc sang nhà cung cấp hàng dệt may quan trọng cho nhiều nước xuất khẩu hàng may mặc có trụ sở tại châu Á.
Hy vọng, Hiệp định thương mại tự do EU-Việt Nam (EVFTA) sẽ được triển khai vào năm 2020. Tuy nhiên, các công ty may mặc của EU và Mỹ có thể phải cạnh tranh mạnh mẽ hơn để tìm nguồn cung ứng từ Việt Nam, dẫn đến chi phí tìm nguồn cung ứng cao hơn và có nguy cơ cao hơn trong việc tuân thủ xã hội .
+ Mỹ – Mexico – Canada Hiệp định Thương mại Tự do (USMCA) được phê chuẩn và có hiệu lực vào đầu năm 2020. Tuy nhiên, các thỏa thuận mới bao gồm các tiêu chuẩn về lao động và môi trường đòi hỏi khắt khe hơn và các cơ chế thực thi mạnh mẽ hơn cho các quy tắc này, các điều khoản này sẽ ảnh hưởng lớn đến ngành may mặc từ chi phí sản xuất đến các vấn đề về tuân thủ các luật định….
+ Vương quốc Anh sẽ rời Liên minh châu Âu (tức là Brexit ) cũng có thể dẫn đến sự thay đổi trong nguồn cung ứng hàng may mặc. Cụ thể, trong kịch bản Brexit không có thỏa thuận, chế độ thuế quan tạm thời có thể dẫn đến mức thuế suất thấp hơn đối với các sản phẩm có nguồn gốc từ các quốc gia như Trung Quốc hiện không có thỏa thuận thương mại tự do với EU. Tuy nhiên, các công ty của Anh có thể phải đối mặt với mức thuế cao hơn khi họ mua sản phẩm từ EU, Thổ Nhĩ Kỳ hoặc các quốc gia hiện có thỏa thuận thương mại tự do với EU. Điều này sẽ mở ra cơ hội và thách thức cho các nhà cung cấp.
Nguồn: Bộ Công Thương

