Advertisement A1: Global Sourcing Fair - 2 A1: Global Sourcing Fair

Năm 2019, ngành dệt may hoàn thành 98,7% kế hoạch xuất khẩu

Theo số liệu thống kê sơ bộ, xuất khẩu hàng dệt và may mặc của Việt Nam tháng 12/2019 ước đạt 3,25 tỷ USD, tăng 3,5% so với tháng 11/2019 và giảm 1,4% so với tháng 12 năm 2018. Tính chung năm 2019, kim ngạch xuất khẩu đạt 39,30 tỷ USD, tăng 6,43% so với năm 2018, là mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thấp nhất trong nhiều năm gần đây và hoàn thành 98,71% kế hoạch xuất khẩu của cả năm 2019 – thấp hơn nhiều so với tỷ lệ thực hiện kế hoạch 105,42% của năm 2018.

Tình hình thực hiện cụ thể của từng nhóm hàng như sau:

+ Kim ngạch xuất khẩu hàng xơ, sợi dệt tháng 12/2019 đạt 312 triệu USD, giảm 3,39% so với tháng 11/2019 và giảm 2,64% so với tháng 12/2018. Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 12/2019, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt 4,14 tỷ USD, tăng 2,9% so với năm 2018, thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng 11,0% của năm 2018 so với 2017, hoàn thành 96,2% kế hoạch xuất khẩu cả năm (thấp hơn so với tỷ lệ thực hiện 100,86% của năm 2018).

+ Kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc tháng 12/2019 đạt 2,7 tỷ USD, tăng 4,57% so với tháng 11/2019 và giảm 2,31% so với tháng 12/2019. Tính chung cả năm 2019, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt 32,5 tỷ USD, tăng 6,87% so với năm 2018, thấp hơn nhiều so với 16,6% của năm 2018 so với năm 2017, hoàn thành 99,05% kế hoạch xuất khẩu của cả năm – là năm đầu tiên không hoàn thành kế hoạch, sau hơn 10 năm ngành dệt may luôn thực hiện vượt kế hoạch..

+ Xuất khẩu vải kỹ thuật của Việt Nam đạt 589 triệu USD trong năm 2019, tăng 11,25% so với năm 2018, là chủng loại hàng may mặc có tốc độ tăng trưởng cao nhất và không thấp hơn quá nhiều so với tốc độ tăng trưởng cùng kỳ năm 2018, đồng thời cũng là nhóm hàng duy nhất hoàn thành vượt kế hoạch xuất khẩu. Nhu cầu nhập khẩu về các loại vải kỹ thuật của thị trường thế giới đặc biệt là trong lĩnh vực vận tải, y tế ngày càng tăng sẽ là cơ hội cho mặt hàng này của Việt Nam tiếp tục bứt phá trong thời gian tới.

+ Xuất khẩu nguyên phụ liệu dệt may đạt 2,0 tỷ USD trong năm 2019, tăng 5,5% so với năm 2018, thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng 11,4% trong năm 2018 so với năm 2017, hoàn thành 97,52% kế hoạch xuất khẩu cả năm.

Nhận định và dự báo

Như vậy, sau nhiều năm đều vượt kế hoạch thì năm 2019 là năm đầu tiên ngành dệt may không hoàn thành chỉ tiêu xuất khẩu đề ra. Nguyên nhân chủ yếu do những diễn biến khó lường của tình hình thị trường thế giới cũng như hiệu quả từ các Hiệp định thương mại tự do, đặc biệt là hiệu ứng từ EVFTA. Hiện EVFTA mới được ký kết nhưng chưa có hiệu lực, hàng xuất khẩu vẫn chịu thuế. Khách hàng mới chỉ đánh giá các FTA mang đến nhiều cơ hội, nhưng cơ hội chưa rõ nét và mới chỉ ở dạng tiềm năng, nếu chuyển đơn hàng sang thị trường khác thì lợi ích cao hơn. Trong khi đó, có hàng loạt các điểm đến có lợi thế về thuế hơn Việt Nam như Bangladesh, Campuchia…

Sang năm 2020, căng thẳng thương mại giữa Mỹ – Trung Quốc vẫn chưa đến hồi kết, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam tiếp tục chịu nhiều tác động và rất khó để đưa ra những nhận định về xu hướng thị trường. Trong đó ngành dệt may Việt Nam sẽ phải đối mặt với một số yếu tố không thuận lợi sau:

+ Số lượng và qui mô các đơn hàng đều sụt giảm trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ – Trung chưa lắng dịu. Tâm lí lo ngại bất ổn khiến hầu hết thị trường xuất khẩu chủ lực của dệt may Việt Nam tăng trưởng chậm lại.

Lượng đơn hàng năm 2020 của nhiều doanh nghiệp hiện mới bằng 80% so với cùng kỳ, một số đơn vị chỉ có đơn ngắn hạn theo tháng, quý. Nguyên nhân chủ yếu là dòng chuyển dịch đơn hàng sang một số quốc gia mới nổi ở châu Phi khiến dệt may Việt Nam gặp khó khăn. Chưa kể, cuộc cạnh tranh với các cường quốc dệt may như Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh… ngày một khốc liệt.

Giá bông thường xuyên giữ ở mức thấp trong khi việc sử dụng bông tại các quốc gia như Bangladesh, Việt Nam, Trung Quốc đang chậm lại. Cả thương nhân và người mua cuối cùng đều giữ nhu cầu ở mức tối thiểu và tránh tích lũy hàng tồn kho, nên tốc độ nhập hàng chỉ ở mức cầm chừng.

+ Tiền đồng đi ngang kể từ đầu năm trong khi đồng nội tệ của các nhà cung cấp như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan… mất giá mạnh hơn, khiến xuất khẩu dệt may của Việt Nam càng thêm bất lợi.

+ Ngành dệt may đang chịu sức ép về nguồn cung khi phải trả chi phí cao hơn để mua vải từ Trung Quốc, trong khi áp lực giảm giá từ các đơn hàng xuất khẩu không nhỏ. Dệt may Việt Nam đang mất dần lợi thế về giá nhân công so với một số nước. Ngoài ra, việc đầu tư, áp dụng khoa học – công nghệ cho ngành dệt may còn hạn chế dẫn đến giảm khả năng cạnh tranh.

+ Việc đáp ứng qui tắc xuất xứ theo Hiệp định Toàn diện và Tiến bộ về Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) tức từ sợi trở đi và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA) từ vải trở đi vẫn còn là một thách thức do nút thắt trong khâu sản xuất vải.

Trong khi đó, các mặt hàng dệt may hiện nay cũng chưa tận dụng được những cơ hội từ Hiệp định CPTPP và EVFTA. Tính đến thời điểm hiện tại, sau hơn 10 tháng CPTPP có hiệu lực nhưng việc cấp chứng nhận xuất xứ (C/O) của Việt Nam vẫn đang phụ thuộc vào các cơ quan hữu quan, trong khi những nước thành viên CPTPP đã cho phép các doanh nghiệp tự chứng nhận.

Ngoài ra, yêu cầu xuất xứ từ sợi trở đi, nghĩa là từ công đoạn kéo sợi, dệt nhuộm vải đều phải thực hiện trong khu vực CPTPP là thách thức không nhỏ, vì các doanh nghiệp dệt may đang phải nhập khẩu hơn 60% nguyên phụ liệu ngoài khu vực CPTPP.

Bên cạnh những yếu tố kém tích cực nêu trên, xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vẫn có nhiều điểm thuận lợi đó là:

+ Thị phần hàng dệt may của Việt Nam tại các thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản, EU, Hàn Quốc… vẫn không ngừng tăng.

+ Dệt may Việt Nam sẽ trở lại đà tăng trưởng tốt nhờ lợi ích đáng kể từ các hiệp định thuơng mại tự do. Việc đa dạng điểm đến xuất khẩu cũng giúp ngành giảm phụ thuộc vào thị trường Mỹ và đảm bảo triển vọng tươi sáng trong bối cảnh bất ổn có thể kéo dài.

Dệt may xuất khẩu của Việt Nam hiện đã có mặt trên 150 thị trường và vùng lãnh thổ. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ chiếm tỷ trọng cao nhất. Tuy nhiên, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ ngày càng giảm và tăng tỷ trọng xuất khẩu tại các thị trường CPTPP, Hàn Quốc, Trung Quốc, ASEAN…

+ Việt Nam đang duy trì mối quan hệ hợp tác lâu dài với nhiều quốc gia thông qua các Hiệp định thương mại tự do (FTA) và đã trở thành điểm đến lí tưởng cho hoạt động đầu tư và sản xuất. Và đến thời điểm hiện tại, hai hiệp định CPTPP và EVFTA vẫn là cơ hội để đẩy mạnh xuất khẩu, mở rộng thị trường và hưởng ưu đãi thuế.

Thị trường xuất khẩu hàng may mặc tháng 11 và 11 tháng năm 2019

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tháng 11/2019, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam đạt 2,58 tỷ USD, giảm 3,9% so với tháng 10/2019 và tăng 1,6% so với tháng 11 năm 2018.

Tính chung 11 tháng năm 2019, xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam đạt 29,87 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, xuất khẩu sang các thị trường chủ lực Mỹ, CPTPP, EU, Hàn Quốc, Trung Quốc đều tăng trưởng thấp hơn so với kế hoạch. Đáng chú ý, tiến độ xuất khẩu sang thị trường ASEAN tăng mạnh vẫn được duy trì từ đầu năm… đã hỗ trợ cho tăng trưởng chung của hàng may mặc Việt Nam.

Chủng loại hàng may mặc xuất khẩu hàng may mặc 11 tháng năm 2019

Trong tháng 11/2019, xuất khẩu hầu hết các chủng loại hàng may mặc của Việt Nam đều chậm lại, đặc biệt là các mặt hàng phục vụ mùa đông như áo Jacket, áo len… Trong khi xuất khẩu một số mặt hàng như quần short, hàng may mặc… lại tăng khá so với tháng trước và cùng kỳ năm 2018.

Lũy kế 11 tháng năm 2019, xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam đạt 29,8 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, xuất khẩu 3 mặt hàng chiếm tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu cao trong tổng xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam là áo Jacket, áo thun, quần đều tăng trưởng thấp dao động từ 3 – 5% so với cùng kỳ năm 2018. Ngược lại xuất khẩu các mặt hàng quần áo trẻ em, vải, áo sơ mi, đồ lót, quần áo BHLD… đạt tốc độ tăng trưởng cao từ 10 – 25%. Đáng chú ý, tăng trưởng xuất khẩu mặt hàng quần áo trẻ em dù vẫn đạt trên ở mức 2 con số, nhưng đã chậm lại một nửa so với cùng kỳ năm 2018.

Nguồn : Bộ Công Thương

Tag:

A4: Global Sourcing Fair - 2A4: Global Sourcing Fair