Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam tháng 10/2019 sang thị trường Mỹ đạt 1,13 tỷ USD, giảm 10% so với tháng 9/2019 và tăng 0,59% so với cùng kỳ năm 2018. Tính chung 10 tháng năm 2019, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường này đạt 12,33 tỷ USD, tăng 7,87% so với cùng kỳ năm 2018, chiếm 45,21% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này.
Mặc dù không chịu tác động trực tiếp nhưng xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang thị trường Mỹ cũng bị ảnh hưởng không nhỏ từ căng thẳng thương mại Mỹ – Trung Quốc. Hầu hết khách hàng khá thờ ơ trong việc đặt hàng dài hạn, do còn chờ những diễn biến của tình hình thế giới, đặc biệt ép giá thấp hơn so với năm 2018, dẫn đến tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thấp. Đơn hàng từ Trung Quốc có xu hướng chuyển sang các thị trường hiện có ưu đãi về thuế suất như Bangladesh, Campuchia. Song nếu so với các quốc gia xuất khẩu dệt may cạnh tranh với Việt Nam, có thể nhận thấy xu hướng xuất khẩu tăng chậm không chỉ ở Việt Nam. Và xu hướng này xuất hiện từ năm 2018. Với diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế thế giới, đặc biệt cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung Quốc chưa có dấu hiệu chấm dứt, xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang thị trường này vẫn duy trì ở mức thấp và dự kiến sẽ khởi sắc từ năm 2020 khi các chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu từ thị trường Trung Quốc sang thị trường Mỹ có hiệu lực.
Nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ từ Trung Quốc giảm mạnh trong tháng 9/2019
Khối lượng nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ đã giảm trong tháng thứ hai liên tiếp vào tháng 9 khi thuế nhập khẩu quần áo bổ sung từ Trung Quốc bắt đầu và mùa tựu trường đã kết thúc. Nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ từ Campuchia đã tăng mạnh trong tháng 9, trong khi nhập khẩu từ Trung Quốc giảm mạnh – là minh chứng rõ ràng nhất về việc các nhà nhập khẩu Mỹ đang tiếp tục tìm kiếm các lựa chọn tìm nguồn cung ứng thay thế trong cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc.
Theo số liệu của Bộ Thương mại Mỹ, khối lượng nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ tháng 9/2019 đã giảm 6,8% so với tháng 8/2019 xuống còn 2,59 tỷ m2 và giảm 4,34% so với cùng kỳ năm 2018. Đáng chú ý, nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ từ 4/10 thị trường cung cấp lớn tăng, trong đó nhập khẩu từ thị trường Campuchia tăng trưởng cao nhất ở mức 25,59%.
Nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ từ Việt Nam chỉ tăng 3,58% so với tháng 8/2019 và tăng 9,46% so với cùng kỳ năm 2018 đạt 347 triệu m2. Trong khi đó, nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ từ Trung Quốc giảm mạnh nhất 13,47% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm 2018 xuống 1,16 tỷ m2.
Nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ từ Bangladesh – nhà cung cấp hàng may mặc lớn thứ 3 vào thị trường Mỹ cũng giảm 4,26% so với tháng 8/2019 và giảm 8,24% đạt 157 triệu m2. Trong số nhà cung cấp còn lại, nhập khẩu hàng may mặc từ Pakistan đạt mức tăng trưởng cao thứ hai, tăng 16,2% lên 50 triệu m2, nhập khẩu từ Indonesia tăng 2,17% lên 94 triệu m2.
Mexico là thị trường cung cấp giảm cao thứ hai ở mức 13,23% so với tháng trước và giảm 4,6% so với cùng kỳ năm 2018 xuống 59 triệu m2. El Salvador, Ấn Độ và Honduras cũng giảm lần lượt 4,96%, 0,65% và 0,62%.
Trong 9 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ tăng 3,52% về lượng và tăng 4,76% về trị giá đạt 65,07 tỷ USD tương đương 21,6 tỷ m2 quy đổi. Đáng chú ý, trong số các nhà cung cấp hàng may mặc lớn nhất vào thị trường Mỹ, nhập khẩu mặt hàng này của Mỹ từ Việt Nam tăng cao nhất 8,35% về lượng và 12,7% về trị giá so với 9 tháng đầu năm 2018 đạt 10,35 tỷ USD tương đương 3,05 tỷ m2 quy đổi.
Nhập khẩu từ Honduras tăng cao thứ hai, ở mức 11,9% lên 2,09 tỷ USD, theo sau là Campuchia với mức tăng 11,13% lên 2,03 tỷ USD. Nhập khẩu từ Bangladesh, tăng 9,96% lên 4,57 tỷ USD, Pakistan và Ấn Độ mức tăng trưởng lần lượt 9,41% và 8,37%. Nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ từ Mexico đã giảm 5,2% xuống 2,42 tỷ USD, trong khi El Salvador giảm 1,38% xuống 1,4 tỷ USD. Nhập khẩu từ Trung Quốc giảm 1,1% xuống 20,1 tỷ USD.
Campuchia và Việt Nam là những lựa chọn hàng đầu để thay thế sản xuất từ Trung Quốc
Sự gia tăng khối lượng các lô hàng may mặc nhập khẩu của Mỹ từ Campuchia và Pakistan trong chín tháng đầu năm, cùng với việc giảm ở mức 2 con số trong các lô hàng nhập khẩu từ Trung Quốc vào Mỹ, cho thấy xu hướng các thương hiệu và nhà bán lẻ Mỹ đang tìm kiếm nguồn hàng ở các thị trường khác. Đặc biệt là thời điểm 15/12/2019 đang đến rất gần, sẽ càng đẩy nhanh tiến độ tìm nguồn cung ứng thay thế để chuẩn bị nguồn hàng nhập khẩu cho thị trường Mỹ trong năm 2020.
Trong bối cảnh đó, nhiều cơ quan hiệp hội ngành hàng cũng như các doanh nghiệp Mỹ đã kêu gọi chính quyền của Tổng thống Mỹ Donald Trump hủy bỏ việc áp thuế để tránh ảnh hưởng tới công nhân và người tiêu dùng. Được biết, nhiều thương hiệu đang thực hiện các bước để giảm sự phụ thuộc vào nhà cung ứng Trung Quốc, bao gồm American Eagle Outfitters, Guess Inc, GIII Apparel Group và Tommy Hilfiger và Calvin Klein – chủ sở hữu PVH Corp vào đầu năm nay, một cuộc khảo sát của Hiệp hội Công nghiệp Thời trang Mỹ (USFIA) cho thấy 83% số người được hỏi mong muốn giảm nguồn cung từ Trung Quốc trong hai năm tới.
Mặc dù vậy, các số liệu trong ngắn hạn của Bộ Thương mại Mỹ cho thấy Campuchia và Việt Nam hiện là những lựa chọn hàng đầu để thay thế sản xuất khi các đơn hàng rời khỏi thị trường Trung Quốc.
Campuchia nỗ lực cải thiện môi trường sản xuất kinh doanh, thu hút đầu tư Campuchia là một trong những quốc gia có nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào ngành may mặc, chiếm hơn 78% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước. Trong khi phần lớn xuất khẩu hàng may mặc của Campuchia là sang Mỹ và EU, quốc gia này đang bị kiểm soát chặt chẽ từ hai thị trường này về các vấn đề liên quan đến lao động.
Campuchia đang thực hiện rất nhiều giải pháp nhằm cải thiện cách nhìn nhận của quốc tế trên toàn cầu. Vào cuối tháng 9/2019, chính phủ nước này đã tuyên bố tăng 4,4% tiền lương tối thiểu cho công nhân may mặc và giày dép lên 190 USD có hiệu lực từ tháng 1 năm 2020.
Trong khi đó, các nhà sản xuất cũng sử dụng rất nhiều biện pháp để ngăn chặn và đối phó với các tình trạng ảnh hưởng không tốt tới đời sống của công nhân. Và một hiệp hội mới được ra mắt tại Campuchia trong tháng 10 để thu hút đầu tư nhiều hơn của Trung Quốc vào ngành may mặc và cung cấp hỗ trợ cho các nhà sản xuất hiện có ở nước này.
Bất chấp sự gia tăng các lô hàng của Campuchia sang thị trường Mỹ, Trung Quốc vẫn là nhà cung cấp hàng may mặc lớn nhất cho Mỹ với 1,17 tỷ m2 trong tháng 9, vượt xa sự cạnh tranh gần nhất từ Việt Nam với 347 triệu m2 và vượt xa cả Campuchia và Pakistan, với 126 triệu m2 và 50 triệu m2.
Thuế quan từ chiến tranh thương mại khiến các nhà phân phối lo lắng giá hàng may mặc tăng cao
Tổng thống Mỹ Donald Trump đã quyết định sẽ gia hạn thời hạn áp thuế quan mới đối với các mặt hàng như đồ chơi, điện thoại di động và các thiết bị điện tử của Trung Quốc cho đến tháng 12/2019. Tuy nhiên, phần lớn các mặt hàng may mặc và giày dép nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ phải chịu mức thuế mới từ tháng giữa tháng 10 vừa qua. Khoảng 40% tất cả các loại quần áo và giày dép ở Mỹ được sản xuất tại Trung Quốc. Sau khi Trung Quốc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2001, các nhà bán lẻ Mỹ ngày càng phụ thuộc vào sản xuất hàng hóa tại Trung Quốc do chi phí lao động và sản xuất rẻ hơn rất nhiều. Khi mùa thu đông đến, trang phục sẽ bị áp thuế bao gồm găng tay, áo khoác ngoài và áo len. Hơn 60% tất vớ của Mỹ được sản xuất tại Trung Quốc và 250 triệu USD trong số hàng hóa đó phải đối mặt với mức thuế quan mới mà Tổng thống Donald Trump đã tuyên bố. Nhiều công ty may mặc đã phải giảm giá thành sản phẩm để cạnh tranh với các chuỗi bán lẻ đang giảm giá như Amazon.com, Inc. và các nhà bán lẻ trực tuyến khác. Điều này khiến lợi nhuận của các doanh nghiệp dệt may giảm đi đáng kể trong khi doanh thu thuần cũng có nguy cơ giảm mạnh nếu bị áp các mức thuế quan mới.
Không những vậy, theo Bloomberg, các mức thuế quan mới sẽ ảnh hưởng đến hàng may mặc dành cho phụ nữ nhiều hơn so với hàng may mặc dành cho nam giới. Theo phân tích dữ liệu từ văn phòng đại diện thương mại Mỹ và Cục điều tra dân số Mỹ, khoảng 42%, tương đương 23,5 tỷ USD quần áo và giày dép nữ nhập khẩu vào Mỹ năm 2018 đến từ Trung Quốc. Đối với nam giới, các con số lần lượt là 26% và 10,9 tỷ USD. Thời trang nữ thay đổi thường xuyên hơn và ngành may mặc khổng lồ của Trung Quốc lại có khả năng đưa ra những xu hướng mới nhất với nhiều mẫu mã và kiểu dáng đa dạng phù hợp với thị yếu người tiêu dùng. Sự chênh lệch này là không thể tránh khỏi vì phụ nữ chi tiêu cho quần áo, giày dép và phụ kiện nhiều hơn so với đàn ông.
Nguồn : Bộ Công Thương

