Advertisement A1: Global Sourcing Fair - 2 A1: Global Sourcing Fair

Chưa có sự tăng trưởng đột biến của hàng may mặc Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ

Tháng 5/2019, xuất khẩu hàng may mặc của Bangladesh sang Mỹ tăng mạnh. Chưa có sự tăng trưởng đột biến của hàng may mặc xuất khẩu Việt Nam sang Mỹ. Theo số liệu thống kê mới nhất của Văn phòng Dệt may của Bộ Thương mại Mỹ (Otexa), nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ trong tháng 5/2019 tăng khá mạnh, tăng 11% so với tháng 4/2019 và tăng 5,5% so với cùng kỳ năm 2018, đạt 2,28 tỷ m2 (6,6 tỷ USD). Trong đó, nhập khẩu từ hầu hết các nhà cung cấp chính đều ghi nhận tăng, đặc biệt nhập khẩu từ Trung Quốc và Bangladesh đạt mức tăng trưởng cao nhất lần lượt là 29,7% và 12,2% so với tháng 4/2019 đạt 855 triệu m2 và 177 triệu m2. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm 2018, thì nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ từ Bangladesh và Campuchia đạt được tốc độ cao nhất 8,6% và 9,38%.

Pakistan ghi nhận mức tăng trưởng 10,16% hàng năm về khối lượng lên 55 triệu m2. Các lô hàng của Ấn Độ đã tăng 8,5% lên 112 triệu m2 trong giai đoạn này. Trung Quốc, nhà cung cấp hàng may mặc lớn nhất cho Mỹ, ghi nhận mức tăng trưởng xuất khẩu của Mỹ là 6,87% so với cùng kỳ lên 855 triệu m2. Việt Nam, nhà cung cấp hàng may mặc lớn thứ hai của Mỹ, đã đạt tăng trưởng 4,7% so với cùng kỳ năm 2018 đạt 337 triệu m2. Trong số các quốc gia còn lại, xuất khẩu từ Honduras sang Mỹ trong tháng 5 đã tăng 3,16% lên 92 triệu m2, trong khi đó, từ Indonesia tăng 2,73% lên 93 triệu m2. Nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ từ El Salvador đã ghi nhận sự giảm mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2018, giảm 5,28% xuống còn 66 triệu m2, tiếp theo là Mexico ở mức 4,99% đến 74 triệu m2.

Trong khi đó, nhập khẩu hàng dệt may, tăng 7,89% so với cùng kỳ lên 6,1 tỷ m2 và 6% về giá trị lên 9,2 tỷ USD. Chỉ riêng hàng dệt may đã ghi nhận mức tăng trưởng 9,36% lên 3,82 tỷ m2 về mặt giá trị đã tăng 4,4% lên 2,57 tỷ USD.

Ngày 29/6, Tổng thống Mỹ Donald Trump quyết định hoãn nâng thuế với 300 tỷ USD hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc sau khi họp với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình bên lề hội nghị G20. Do đó, trước khi tiếp tục có những biện pháp trừng phạt mới, chắc chắn nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ từ Trung Quốc sẽ tăng nhanh. Bên cạnh đó, xu hướng tăng mạnh nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ từ các nhà cung cấp kháctrong khu vực (tăng mạnh nhất từ Bangladesh và Campuchia) cho thấy các thương hiệu Mỹ đang đẩy nhanh các kế hoạch cắt giảm sản lượng từ Trung Quốc.

Tổng quan nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ trong 8 năm

Lũy kế 5 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ đạt tăng 4,54% về lượng và tăng 5,93% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018, đạt 11,1 tỷ m2 và 33,1 tỷ USD. Trong đó, Mỹ tăng nhập khẩu từ 9/10 nhà cung cấp. Đáng chú ý, nhập khẩu từ Bangladesh tăng mạnh nhất, tăng 15,48% lên 2,5 tỷ USD, tiếp theo là Việt Nam ở mức 12% đến 5,3 tỷ USD. Trung Quốc chứng kiến mức tăng nhẹ 0,37% lên 9,06 tỷ USD. Cả Honduras và Ấn Độ đều chứng kiến mức tăng hai chữ số lần lượt là 11,87% và 10,83% lên 1,06 tỷ USD và 1,95 tỷ USD.

Nhập khẩu từ Pakistan đã ghi nhận mức tăng trưởng 9,86% trong 5 tháng đầu năm 2019 đạt 586 triệu USD và nhập khẩu từ Campuchia đã tăng 6% lên 1,3 tỷ USD. Nhiều khả năng nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ từ Việt Nam sẽ tăng cao hơn trong thời gian tới.

Trong tháng 5, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã thông báo sẽ áp thuế 25% đối với gần như tất cả hàng xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ, khiến các nhà bán lẻ may mặc và giày dép Mỹ lo lắng.

Với sự quan ngại về thuế quan bổ sung, một số thương hiệu lớn của Mỹ đã cân nhắc chuyển nguồn cung ứng hiện tại từ Trung Quốc. Trong đó, thương hiệu Crocs thông báo sẽ giảm sản lượng sản xuất tại Trung Quốc xuống còn 70% trong năm tới. Tập đoàn may mặc G-III, một nhà sản xuất nhãn hiệu riêng và nhà cung cấp các nhãn hiệu được cấp phép bao gồm Tommy Hilfiger, Levi’s và Calvin Klein, cũng lên kế hoạch nhằm bù đắp tác động của căng thẳng thương mại Mỹ – Trung Quốc bằng cách giảm sản xuất tại Trung Quốc và tăng giá sản phẩm.

Tuy nhiên, việc chuyển nguồn cung ứng toàn cầu khỏi Trung Quốc sang các thị trường có cơ sở hạ tầng sản xuất kém hơn cũng sẽ gặp không ít những rủi ro. Theo khảo sát có khoảng 30% doanh nghiệp được hỏi có kế hoạch chuyển hướng nguồn cung của họ từ Trung Quốc sang các khu vực khác khi thuế quan tiếp tục diễn ra. Các địa điểm được tìm kiếm nhiều nhất là Indonesia, Campuchia, Bangladesh, Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam.

Thực tế trong 5 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ từ Bangladesh và Campuchia đã tăng nhanh nhất so với các nhà cung cấp khác. Tuy nhiên, với những vấn đề còn tồn tại của mình thì Việt Nam được đánh giá là điểm cung ứng an toàn hơn hẳn so với hai nhà cung cấp Bangladesh và Campchia. Dự báo, nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ từ Việt Nam sẽ khởi sắc hơn trong thời gian tới nếu các vấn đề về kiểm soát nguồn gốc xuất xứ được các cơ quan quản lý, doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ.

Bangladesh là nhà xuất khẩu hàng may mặc lớn thứ hai thế giới và ngành dệt may nước này đóng góp khoảng 20% vào GDP của Bangladesh. Ngành dệt may Bangladesh sử dụng khoảng 20 triệu người và là động lực chính của nền kinh tế của đất nước. Các nhà sản xuất ở Bangladesh đang được khuyến khích giảm dần tỷ lệ sản xuất các mặt hàng truyền thống và tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu về các sản phẩm giá trị gia tăng.

Tuy nhiên, đất nước này vẫn phải đối mặt với các vấn đề về cơ sở hạ tầng, thiếu năng lượng và chậm thực hiện cải cách kinh tế. Điều kiện làm việc kém vẫn là một vấn đề trong các nhà máy dệt của Bangladesh.

Campuchia cũng đối mặt với nhiều khó khăn. Campuchia là nhà cung cấp chiến lược cho nhiều công ty may mặc, giày dép. Đây là nhà cung cấp hàng may mặc lớn thứ sáu và là nhà cung cấp giày dép lớn thứ tư cho Mỹ và là nhà cung cấp hàng may mặc và giày dép lớn thứ năm cho thị trường châu Âu. Năm 2018, xuất khẩu của Campuchia sang Châu Âu và Mỹ đạt 8,5 tỷ USD, tương đương hơn một phần ba (38%) tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Campuchia. Hơn nữa, hàng may mặc, giày dép và hàng hóa du lịch chiếm 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của Campuchia. Tháng 5/2019, các thương hiệu toàn cầu bao gồm Nike, Gap Inc, Levi Strauss và Under Armor đã gửi lá thư thứ hai cho thủ tướng Hun Sen kêu gọi chính phủ Campuchia giải quyết các vấn đề để tránh nguy cơ mất các lợi ích thương mại quốc tế. Gần đây, Liên minh châu Âu đã công bố quyết định xem xét các lợi ích Tất cả mọi thứ trừ vũ khí (EBA) của Campuchia, điều này có thể dẫn đến quyết định tạm thời đình chỉ các thỏa thuận thuế quan ưu đãi EBA. Và các thành viên trong Quốc hội Mỹ đã giới thiệu Đạo luật Thương mại Campuchia năm 2019, yêu cầu Chính phủ Mỹ xem xét các lợi ích của Hệ thống Ưu đãi Tổng quát (GSP) của Mỹ.

Nguồn : Bộ Công Thương

Tag:

A4: Global Sourcing Fair - 2A4: Global Sourcing Fair