Ngành dệt may trước đòi hỏi tái cơ cấu

Dệt may Việt Nam được coi là một trong những ngành công nghiệp hưởng lợi nhiều nhất từ các hiệp định thương mại tự do (FTA). Quá trình mở cửa, hội nhập đã tạo điều kiện để dệt may trở thành ngành xuất khẩu mũi nhọn...Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đóng góp của ngành dệt may trong tăng trưởng kinh tế đang có xu hướng bị thu hẹp, chủ yếu do một số ngành, lĩnh vực công nghệ cao tăng trưởng nhanh.

Xuất khẩu hàng dệt may sắp đạt ngưỡng

Năm 2019, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 264,19 tỷ USD, tăng 63% so với năm 2015; thì kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam năm 2019 đạt 32,85 tỷ USD, tăng 44,07%. Số liệu này phần nào cho thấy ngành công nghiệp dệt may của Việt Nam không còn giữ vai trò số 1 trong trong cơ cấu các ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam.

 

Sau nhiều năm liên tục giữ vị trí hàng đầu trong cơ cấu các ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam đang có xu hướng giảm dần, nhường vị trí cho các ngành công nghiệp như điện tử, viễn thông vượt lên, dù trị giá xuất khẩu của ngành vẫn không ngừng tăng. Ngành dệt may vẫn là ngành công nghiệp quan trọng và giúp giải quyết lực lượng lao động rất lớn của Việt Nam.

 

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, giai đoạn năm 2015-2019, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam tăng trưởng bình quân 9,65%/năm, trong đó tốc độ tăng bình quân xuất khẩu sang một số thị trường như CPTPP, Hàn Quốc, Trung Quốc, Campuchia… khá cao trên 10% thì xuất khẩu sang EU, Mỹ duy trì ở mức 6,41%/năm và 7,93%/năm.

Một phần do những thị trường như Hàn Quốc, Trung Quốc, CPTPP… vẫn là những thị trường mới, tiềm năng so với các thị trường xuất khẩu truyền thống như Mỹ, EU. Bên cạnh đó, quy mô của các thị trường này cũng nhỏ hơn so với thị trường Mỹ và EU. Đáng chú ý, khu vực thị trường CPTPP với 10 thị trường thành viên, nhu cầu nhập khẩu cũng không thấp trong giai đoạn 2015-2019 sẽ bứt phá mạnh trong thời gian từ năm 2020 trở đi khi hàng dệt may Việt Nam đủ điều kiện hưởng các ưu đãi về thuế.

Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang các thị trường chính giai đoạn 2015 – 2019

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan

Thị trường

Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam (%)

Năm 2019
(tỷ USD)

Năm
2019/18 (%)

Năm
2018/17 (%)

Năm
2017/16 (%)

Năm
2016/15 (%)

Cargo
(2015-2019)

Tổng

32,85

7,79

16,68

9,63

4,49

9,65

Mỹ

14,85

8,39

11,56

7,25

4,51

7,93

CPTPP

5,58

7,84

22,70

7,22

3,12

10,22

Nhật Bản

3,99

4,61

22,56

7,23

4,12

9,63

EU

3,48

4,58

10,18

8,20

2,69

6,41

Hàn Quốc

3,35

1,63

24,81

15,74

7,35

12,38

Trung Quốc

1,59

3,47

39,54

33,81

23,07

24,97

Anh

0,78

1,43

8,05

-0,72

2,06

2,70

Campuchia

0,60

23,93

40,24

42,71

19,32

31,55

Đài Loan

0,29

13,19

16,66

-12,35

1,29

4,70

Hong Kong

0,29

2,65

30,23

-5,66

-3,48

5,94

Indonesia

0,28

38,01

42,24

23,69

-13,74

22,55

Nga

0,26

41,92

6,19

53,63

30,03

32,94

Thái Lan

0,21

33,30

50,51

20,10

53,88

39,45

Philippin

0,12

3,53

22,07

12,87

26,78

16,31

Ấn Độ

0,10

54,44

16,35

68,16

8,13

36,77

UAE

0,09

-0,59

-0,41

-17,33

-12,31

-7,66

Bangladesh

0,08

28,50

4,03

16,12

15,12

15,94

Braxin

0,06

13,39

14,17

12,96

-38,26

0,56

Ả Rập Xê út

0,05

12,95

-2,92

-6,69

-13,71

-2,59

Sri Lanka

0,04

         

Myanma

0,03

30,92

61,41

35,85

1,19

32,34

Thổ Nhĩ Kỳ

0,03

-24,72

7,19

38,15

-21,69

-0,27

Nigieria

0,03

185,97

13,39

11,53

14,53

56,36

Nam Phi

0,03

6,02

12,63

21,69

-1,39

9,74

Angola

0,03

5,43

56,17

139,04

61,28

65,48

Na Uy

0,02

-8,71

17,58

-17,72

12,00

0,79

Ixraen

0,02

3,93

21,74

16,51

6,84

12,26

Tanzania

0,02

         

Panama

0,02

-5,54

17,95

-25,75

-15,93

-7,32

Achentina

0,02

-21,62

-15,99

28,12

0,25

-2,31

Colombia

0,01

         

Thụy Sỹ

0,01

16,04

11,10

-12,82

12,04

6,59

Kenya

0,01

         

Lào

0,01

18,80

13,67

-24,25

12,91

5,28

Ai Cập

0,01

6,82

38,46

11,15

-9,21

11,80

Mozambique

0,01

         

 

Trong giai đoạn 2015-2019, công tác đa dạng hóa thị trường xuất khẩu đã đạt được những kết quả tương đối khả quan. Tỷ trọng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang các thị trường CPTPP, Hàn Quốc, Anh, Campuchia… tăng, trong khi giảm tỷ trọng xuất khẩu sang các thị trường Mỹ, EU, phân tán mức độ rủi ro cho hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam.

 

Về cơ cấu chủng loại hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2015 – 2019 tương đối ổn định với một số chủng loại chính như áo thun, áo Jacket, quần, quần áo trẻ em, vải, áo sơ mi, đồ lót… Đáng chú ý, trong giai đoạn này, một số chủng loại có tốc độ tăng trưởng bình quân rât cao như quần áo trẻ em, vải, đồ lót, quần áo BHLD, áo len, quần áo bơi… sẽ là những mặt hàng có triển vọng xuất khẩu cao trong những thời gian tới.

Chủng loại hàng dệt may xuất khẩu chính của Việt Nam giai đoạn 2015 - 2019

Nguồn: Tính toán tứ số liệu của Tổng cục Hải quan

 

Thị trường

Năm 2019
(tỷ USD)

Tăng trưởng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam (%)

Năm
2019/18

Năm
2018/17

Năm
2017/16

Năm
2016/15

Cargo
2015-2019

Tổng

32,85

7,79

16,68

9,63

4,49

9,65

áo thun

6,64

2,11

14,72

20,40

3,58

10,20

áo Jacket

6,36

3,74

19,24

4,40

-2,74

6,16

Quần

5,63

5,16

16,72

13,11

4,42

9,85

Quần áo trẻ
em

2,18

9,89

16,72

13,69

11,27

12,89

Vải

1,96

22,64

30,68

22,57

9,40

21,32

áo sơ mi

1,76

15,67

11,11

2,44

6,24

8,87

Đồ lót

1,61

9,93

13,41

23,87

27,64

18,71

Váy

1,48

-0,88

14,87

-2,68

7,61

4,73

Quần Short

1,00

11,58

3,28

11,41

0,49

6,69

Quần áo
BHLD

0,59

24,93

36,12

19,49

27,11

26,92

áo len

0,41

51,77

29,14

6,64

14,20

25,44

Găng tay

0,37

10,95

22,20

15,22

1,28

12,41

Quần áo
bơi

0,36

23,56

22,33

33,39

9,33

22,15

Quần áo
Vest

0,31

-5,40

29,30

6,01

6,02

8,98

Quần áo
ngủ

0,29

11,56

42,62

0,05

3,77

14,50

Khăn bông

0,29

10,07

19,43

4,95

8,90

10,84

Hàng may
mặc

0,22

44,03

3,28

26,79

-23,14

12,74

Bít tất

0,15

42,12

30,47

30,09

24,49

31,79

Quần Jean

0,11

42,34

-3,62

27,96

-6,92

14,94

Màn

0,11

29,07

-15,44

20,00

-26,49

1,79

áo Ghile

0,10

2,82

22,11

0,87

-1,81

6,00

PL may

0,09

35,52

42,24

47,02

14,26

34,76

áo nỉ

0,05

155,94

15,28

10,97

-3,50

44,67

áo gió

0,01

55,66

40,34

168,10

-52,38

52,93

 

Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu các chủng loại hàng dệt may giai đoạn 2015 – 2019 (%)

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan

 

Chủng loại

Năm 2015

Năm 2016

Năm 2017

Năm 2018

Năm 2019

áo thun

19,95

19,78

21,72

21,35

20,23

áo Jacket

22,20

20,67

19,68

20,12

19,36

Quần

17,03

17,02

17,56

17,56

17,14

Quần áo trẻ
em

5,88

6,26

6,49

6,50

6,62

Vải

4,01

4,20

4,69

5,26

5,98

áo sơ mi

5,53

5,62

5,25

5,00

5,37

Đồ lót

3,58

4,37

4,94

4,80

4,90

Váy

5,45

5,62

4,99

4,91

4,51

Quần Short

3,41

3,28

3,33

2,95

3,05

Quần áo
BHLD

1,01

1,23

1,34

1,56

1,81

áo len

0,76

0,83

0,81

0,89

1,26

Găng tay

1,03

1,00

1,05

1,10

1,13

Quần áo bơi

0,72

0,75

0,92

0,96

1,10

Quần áo Vest

0,99

1,01

0,97

1,08

0,95

Quần áo ngủ

0,78

0,77

0,71

0,86

0,89

Khăn bông

0,85

0,89

0,85

0,87

0,89

Hàng may mặc

0,67

0,49

0,57

0,50

0,67

Bít tất

0,21

0,25

0,30

0,34

0,44

Quần Jean

0,29

0,26

0,30

0,25

0,33

Màn

0,49

0,35

0,38

0,27

0,33

áo Ghile

0,37

0,35

0,32

0,33

0,32

PL may

0,12

0,13

0,17

0,21

0,26

áo nỉ

0,06

0,06

0,06

0,06

0,14

áo Kimono

0,27

0,25

0,22

0,17

0,14

áo đạo hồi

0,16

0,17

0,09

0,08

0,10

Mặt hàng khác

4,18

4,41

2,29

2,01

2,09


Phụ thuộc quá lớn vào nguyên liệu nhập khẩu

Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), năm 2019, Việt Nam trở thành nhà xuất khẩu hàng may mặc lớn thứ 4 trên thị trường thế giới sau Trung Quốc, EU, Bangladesh. Tuy vậy, để đạt mục tiêu đến năm 2030 xuất khẩu dệt may đạt 45 - 50 tỷ USD và tầm nhìn đến 2040 đạt 120 - 130 tỷ USD, ngành dệt may Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm.

Bất cập lớn nhất của ngành dệt may trong chuỗi cung ứng là nguyên phụ liệu đầu vào như bông, sợi… không đáp ứng đủ nhu cầu cho sản xuất hàng xuất khẩu. Thêm vào đó, sự phụ thuộc quá lớn vào nguồn vải nhập khẩu, do tình trạng “nút thắt cổ chai” tại công đoạn dệt, nhuộm, tỷ lệ nội địa hóa chỉ khoảng 50%. Trong khi đó, sản xuất chủ yếu theo phương thức gia công xuất khẩu, dù phương thức FOB, ODM, OBM đã tăng nhưng tỷ lệ vẫn còn hạn chế.

 

Quá trình hội nhập giúp Việt Nam tham gia sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu thông qua các FTA thế hệ mới, đặc biệt là Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), sẽ tạo ra cú hích mang tính đột phá tiếp theo giúp ngành dệt may Việt Nam tăng tốc. Tuy nhiên, quy tắc xuất xứ của CPTPP từ sợi trở đi và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) từ vải trở đi đã dẫn đến sự chuyển dịch của các nhà máy sản xuất nguyên liệu may mặc từ Trung Quốc sang Việt Nam.

Trong năm 2019, lượng vốn FDI vào ngành dệt may vẫn tăng khá. 5 quốc gia và vùng lãnh thổ có lượng vốn đầu tư lớn nhất vào ngành dệt may lần lượt là Hồng Kông (447 triệu USD), Singapore (370 triệu USD), Trung Quốc (270 triệu USD), Hàn Quốc (165 triệu USD), Seychelles (103 triệu USD). Đáng chú ý dòng vốn FDI vào dệt may trong năm 2019 là sự vượt trội của lượng vốn vào các dự án nguyên liệu, trong đó có tới 90 dự án vào mảng dệt, tổng vốn 1,245 tỷ USD. Tiếp đến là lĩnh vực nhuộm với 24 dự án, tổng vốn đăng ký 673,3 triệu USD, 109 dự án may với 587,2 triệu USD, 45 dự án sợi với 640,4 triệu USD, 3 dự án sản xuất xơ với tổng vốn đăng ký 1,3 triệu USD. Vốn vào các dự án thượng nguồn gia tăng mạnh so với việc chỉ đầu tư vào may mặc trước đây.

Đáng lưu ý, với tỷ lệ chiếm chưa tới 30% về số lượng doanh nghiệp, nhưng đa số đều là các doanh nghiệp có quy mô lớn, khu vực FDI hiện đang chiếm ưu thế vượt trội so với các doanh nghiệp trong nước. Các dự án FDI đã đi vào hoạt động đang chiếm gần 60% tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may cả nước. Dù tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước đang có xu hướng tăng lên, nhưng mức độ diễn ra vẫn còn rất chậm. Điều này cho thấy tốc độ cũng như quy mô sản xuất của các doanh nghiệp trong nước vẫn chưa cải thiện nhiều trong giai đoạn vừa qua.

 

Hiệp định EVFTA, CPTPP thúc đẩy tái cơ cấu ngành dệt may

Ngành dệt may đang đứng trước nhiều cơ hội to lớn trong việc thúc đẩy xuất khẩu nhờ có thể hưởng lợi từ các ưu đãi thuế quan của các Hiệp định CPTPP, EVFTA…, trong đó có cơ hội để cơ cấu lại ngành.

Cơ hội để cơ cấu lại ngành dệt may trước hết đến từ yêu cầu nội tại của ngành. Tuy đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhưng ngành dệt may cũng bộc lộ nhiều bất cập. Đó là sự phát triển mất cân đối giữa các công đoạn sản xuất. Dệt may Việt Nam mạnh về khâu gia công xuất khẩu (cắt, may), nhưng lại rất yếu về khâu thượng nguồn là sợi và vải. Ngay cả khâu Việt Nam có thế mạnh là cắt may thì phương thức gia công xuất khẩu (CMT) là chủ yếu, các phương thức mang lại giá trị gia tăng cao như FOB, ODM và OBM chiếm tỷ lệ không đáng kể.

Cơ cấu lại ngành dệt may cũng xuất phát từ yêu cầu đáp ứng các quy định về xuất xứ để được hưởng thuế suất ưu đãi 0%. Cụ thể, quy tắc xuất xứ chủ đạo của CPTPP là từ sợi trở đi, của FTA giữa Việt Nam với EU là từ vải trở đi. Tuy nhiên, cũng có một số quy định ngoại lệ. Như trong CPTPP là (i) quy tắc tỷ lệ tối thiểu, (ii) quy tắc một công đoạn cho ba mặt hàng va li, túi xách; áo ngực phụ nữ; quần áo trẻ em bằng vải tổng hợp, (iii) danh mục nguồn cung thiếu hụt, (iv) quy tắc một đổi một khi xuất khẩu quần bằng vải bông vào thị trường Mỹ. Trường hợp ngoại lệ đối với FTA là sử dụng vải từ Hàn Quốc.

Chúng ta không thể phát triển dựa vào quy định ngoại lệ. Do đó, để phát triển bền vững buộc ngành dệt may phải cơ cấu lại.

Một số giải pháp để có thể cơ cấu lại ngành dệt may

Cần thống nhất quy hoạch và cấp phép các khu công nghiệp (KCN) dệt may lớn trong cả nước, tránh chồng chéo giữa các vùng, các địa phương. Tập trung phát triển các KCN lớn tại nơi có đông lao động để thu hút đầu tư vào lĩnh vực sợi, dệt, nhuộm - hoàn tất, nâng cấp hạ tầng, kết nối giao thông thủy, bộ, cảng biển tại các khu vực này.

Nhà nước hỗ trợ các địa phương đầu tư xử lý nước thải tại các KCN để vừa thu phí xử lý vừa chịu trách nhiệm về môi trường cho chính địa phương mình, đồng thời giảm gánh nặng về vốn cho doanh nghiệp.

Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt nguồn nhân lực chất lượng cao cho công nghiệp hỗ trợ. Đã có không ít dự án lớn trong lĩnh vực này đầu tư máy móc thiết bị hiện đại, nhưng gặp khó khăn hoặc thất bại do thiếu nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu (điển hình là nhuộm Yên Mỹ, sợi Đình Vũ). Cần thành lập khoa dệt may tại các trường đại học lớn trong cả nước. Có chính sách để thu hút sinh viên vào học các ngành này, ví dụ giảm học phí hoặc cấp học bổng.

Các chính sách ưu đãi đầu tư (như thuế đất, thuế thu nhập doanh nghiệp, giá điện, nước...) nên tập trung hướng đến thu hút công nghệ tiên tiến, ưu tiên đầu tư vào công nghiệp hỗ trợ... mà không ưu đãi tràn lan. Đối với các dự án dệt, nhuộm hoàn tất đã đi vào hoạt động, cần có sự kiểm soát chặt chẽ khâu xử lý nước thải, hiện tượng chuyển giá, các chế độ cho người lao động.

Các doanh nghiệp mạnh trong nước cần phối hợp triển khai một số dự án lớn tại các trung tâm dệt may của cả nước, hình thành chuỗi liên kết tại mỗi vùng, miền, tạo ra đối trọng trong khu vực giữa doanh nghiệp trong nước và FDI về quan hệ lao động, thu nhập, bảo vệ môi trường, nghĩa vụ với Nhà nước, địa phương, người lao động. Đặc biệt, cần chú trọng khâu chuyển giao công nghệ, lồng ghép chương trình đào tạo cán bộ quản lý kỹ thuật, công nghệ khi ký hợp đồng mua máy móc, thiết bị.

Tăng cường vai trò của hiệp hội trong việc đề xuất chính sách về lao động, kiểm tra chuyên ngành, thủ tục hành chính... tạo môi trường kinh doanh thông thoáng cho doanh nghiệp. Làm đầu mối kết nối giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau, với khách hàng, nhà đầu tư, nhà cung cấp thiết bị, công nghệ tiên tiến của nước ngoài.

Nguồn: Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương (VITIC)

Hỗ trợ thông tin thi trường

Ms. Nguyễn Thị Cẩm Thanh

Email: thanh.ntc@vcosa.org.vn

Mobile: 090 156 9595

Hỗ trợ trực tuyến

Mr. Vũ Thái Bạch

Email: bach.vt@vcosa.org.vn

Mobile: 0943 989 968

Đăng ký nhận Bản tin của chúng tôi

Địa chỉ email của bạn sẽ được sử dụng theo Chính sách bảo mật của chúng tôi.