Tác động của Covid-19 đến ngành may mặc Mỹ

Phần lớn các doanh nghiệp may mặc Mỹ đều cho rằng tác động của dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm 2020 và là thách thức hàng đầu của họ trong năm. Những khó khăn kinh doanh do Covid-19 gây ra sẽ không sớm biến mất, và các công ty thời trang phải chuẩn bị đối với tác động trung và dài hạn của đại dịch.

+ Covid-19 đã gây ra sự gián đoạn nghiêm trọng trong chuỗi cung ứng cho các công ty thời trang của Mỹ. Sự gián đoạn đến từ nhiều khía cạnh, từ thiếu lao động, thiếu nguyên liệu dệt, và chi phí vận chuyển và hậu cần tăng đáng kể.

+ Covid-19 đã dẫn đến sự sụt giảm doanh số trên diện rộng và việc hủy đơn hàng giữa các công ty thời trang Mỹ. Hầu hết tất cả những doanh nghiệp tham gia khảo sát đều cho rằng (96%) doanh thu bán hàng của công ty họ sẽ giảm vào năm 2020.

 

Khi doanh số bán hàng giảm và hoạt động kinh doanh bị gián đoạn đáng kể, không có gì ngạc nhiên khi tất cả những người được hỏi (100%) nói rằng họ ít nhiều đã hoãn hoặc hủy đơn đặt hàng tìm nguồn cung ứng.

Gần một nửa số nhà bán lẻ tự xác định danh tính cho biết các đơn đặt hàng tìm nguồn cung ứng mà họ đã hủy hoặc hoãn sẽ vượt quá quý 2 năm 2020. 40% khác dự kiến việc hủy và hoãn đơn đặt hàng có thể kéo dài thêm đến quý 4 năm 2020 hoặc thậm chí xa hơn. Việc hủy hoặc hoãn đơn đặt hàng đã ảnh hưởng nhiều nhất đến các nhà cung cấp ở Trung Quốc, Bangladesh và Ấn Độ.

Tác động của COVID-19 và Chiến tranh Thương mại Mỹ - Trung đối với Nguồn cung ứng của các Công ty Thời trang

Có tới 90% doanh nghiệp cho rằng, việc áp thuế đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc đã làm tăng chi phí tìm nguồn cung ứng của công ty họ vào năm 2020, tăng từ 63% năm ngoái.

Covid-19 và cuộc chiến thương mại đang thúc đẩy các công ty thời trang của Mỹ giảm “tiếp xúc” với Trung Quốc” hơn nữa. Mặc dù “Trung Quốc cộng với Việt Nam cộng với nhiều” vẫn là mô hình tìm nguồn cung ứng phổ biến nhất trong số những người được hỏi, khoảng 29% người được hỏi cho biết rằng họ tìm nguồn hàng từ Việt Nam NHIỀU HƠN từ Trung Quốc vào năm 2020, tăng so với 25% vào năm 2019.

Vì các công ty thời trang của Mỹ đang tìm nguồn cung ứng tương đối ít hơn từ Trung Quốc, họ đang chuyển hầu hết các đơn đặt hàng sang các đối thủ cạnh tranh của Trung Quốc ở châu Á. Tất cả những người được hỏi (100%) nói rằng họ đã “chuyển một số đơn đặt hàng tìm nguồn cung ứng từ Trung Quốc sang các nhà cung cấp châu Á khác” trong năm nay, tăng từ 77% vào năm 2019.

Tuy nhiên, không có bằng chứng rõ ràng nào cho thấy các công ty thời trang của Mỹ đang tìm nguồn cung ứng nhiều hơn từ Tây Bán cầu vì Covid-19 và cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc.

Xu hướng tìm nguồn cung ứng mới nổi

Đa dạng hóa nguồn cung ứng đang chậm lại và nhiều công ty thời trang Mỹ đang chuyển sang củng cố cơ sở tìm nguồn cung ứng hiện có của họ. Gần một nửa số người được hỏi nói rằng họ có kế hoạch “tìm nguồn từ cùng một số quốc gia, nhưng làm việc với ít nhà cung cấp hơn,” tăng từ 40% trong cuộc khảo sát năm ngoái.

 

Trung Quốc rất có thể sẽ vẫn là cơ sở tìm nguồn cung ứng quan trọng cho các công ty thời trang của Mỹ. Tuy nhiên, các yếu tố phi kinh tế có thể làm phức tạp các quyết định tìm nguồn cung ứng của các công ty. Hưởng lợi từ việc các công ty thời trang Mỹ giảm nguồn cung từ Trung Quốc, Việt Nam và Bangladesh dự kiến sẽ đóng vai trò quan trọng hơn với tư cách là nhà cung cấp hàng may mặc chính cho thị trường Mỹ.

Do sự gián đoạn chuỗi cung ứng đã trải qua trong đại dịch, các công ty thời trang của Mỹ đang tích cực hơn trong việc khám phá các cơ hội tìm nguồn cung ứng “Sản xuất tại Mỹ” để cải thiện thời gian giao hàng, linh hoạt và giảm rủi ro tìm nguồn cung ứng.

Hiệp định thương mại Mỹ-Mexico-Canada (USMCA)

Đối với các công ty đã sử dụng NAFTA để tìm nguồn cung ứng, đại đa số (77,8%) cho rằng họ “sẵn sàng đạt được bất kỳ lợi ích USMCA nào ngay lập tức”, tăng hơn 31% so với năm 2019. Ngay cả đối với những người được hỏi không sử dụng NAFTA hoặc tìm nguồn cung ứng từ khu vực, khoảng một nửa trong số họ trong năm nay có thể “xem xét việc tìm nguồn cung ứng ở Bắc Mỹ trong tương lai” và khám phá những lợi ích của USMCA. Một số doanh nghiệp lo ngại về những thay đổi về quy tắc xuất xứ. Những lo lắng này dường như tập trung đặc biệt vào các sản phẩm denim.

Đạo luật Cơ hội và Tăng trưởng Châu Phi (AGOA)

Gần 37% số doanh nghiệp cho rằng đã tìm nguồn cung ứng NHIỀU hơn hàng dệt may từ khu vực cận Sahara (SSA) kể từ lần gia hạn AGOA mới nhất vào năm 2015, tăng đáng kể so với 27%. Hơn 40% cho rằng AGOA và “nguồn cung cấp vải từ nước thứ ba” là rất quan trọng đối với việc tìm nguồn cung ứng của họ từ khu vực SSA.

Tuy nhiên, các doanh nghiệp này cũng thể hiện mức độ quan tâm thấp đối với việc đầu tư trực tiếp vào khu vực SSA. Khoảng 27% số người được hỏi nói rằng bản chất tạm thời của AGOA và sự không chắc chắn liên quan đến tương lai của thỏa thuận đã khiến họ không mặn mà với việc mở rộng hay tăng đầu tư.

Với ngày hết hạn của AGOA sắp đến gần, các cuộc thảo luận về tương lai của thỏa thuận và triển vọng tìm nguồn cung ứng từ SSA bắt đầu tăng cường. Trong số các lựa chọn chính sách khác nhau cần xem xét, “Gia hạn AGOA thêm mười năm nữa mà không có thay đổi lớn về các quy định hiện hành” và “Thay thế AGOA bằng một hiệp định thương mại tự do vĩnh viễn yêu cầu cắt giảm thuế quan có đi có lại và tiếp tục cho phép cung cấp vải của nước thứ ba” là những vấn đề được doanh nghiệp quan tâm và mong muốn nhất.

Nguồn: Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương (VITIC)